Trang Chính | Từ Đàm Hải Ngoại | Thiền Phái Trúc Lâm | Phật Pháp
Pháp Âm | |Tin Tức Phật Giáo | Tổng Vụ Cư Sĩ | Tin Tức Sinh Hoạt |  Nối kết | Hình ảnh
Thư tịch H.T. Trí Chơn | Thư tịch H.T. Tín Nghĩa

Please press HOME to go back to the main web page

HOME

TIỂU SỬ THIỀN SỬ, THÍCH MẬT KHẾ

TIỂU SỬ THIỀN SỬ, THÍCH MẬT KHẾ

 

 

 

TIỂU SỬ THIỀN SỬ

THÍCH MẬT KHẾ

 

Điều Ngự Tử  TÍN NGHĨA

     

           

             Ngài họ Lê, quý danh là Chánh.  Quê quán làng Thần Phù, xã Thủy Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.


            Ngài thọ sanh năm Giáp Thìn (1904). Năm Quý Sửu (1913), lên chín tuổi, xuất gia đầu Phật với tổ Giác Tiên, chùa Trúc Lâm, cố đô Huế.


             Ngài tỏ ra thông minh xuất chúng trước tuổi.


             Năm Giáp Tý (1924), được đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Từ Hiếu.  Tổ Tâm Tịnh làm Đàn đầu Hòa thượng.  Ngài đổ thủ khoa vào năm 21 tuổi tròn.





 

          Pháp danh :       Tâm Địa,


          Pháp tự :           Mật Khế,


                                    Thuộc giòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 43.


             Sau khi đắc giới, ngài xin với bổn sư ra tổ đình Thiên Hưng để tham cầu thêm giáo lý với Hòa thượng Huệ Pháp.


             Năm 23 tuổi, ngài xin vào thọ giáo với Hòa thượng Phước Huệ ở chùa Thập Tháp, tỉnh Bình Định.


 

            Năm 1932, ngài cùng với bổn sư là tổ Giác Tiên và chư tôn đức Tăng già đứng ra thành lập An Nam Phật Học hội.  Ngài là vị giảng sư đầu tiên của hội.  Và, ngài cũng là vị sư trẻ đầu tiên tại cố đô Huế sớm ý thức đem đời vào đạo và đem đạo vào đời bằng con đường chấn hưng Phật giáo.


 

            Với tư chất và hạnh nguyện ấy, nên được tổ Tâm Tịnh (Tổ khai sơn Tây Thiên Di Đà tự) tặng y bát để hành trì.


             Năm Quý Dậu (1933), ngài vâng lời sư phụ đứng ra lập trường Tiểu học Phật giáo tại chùa Vạn Phước và trực tiếp làm Hiệu trưởng.


             Năm Giáp Tuất (1934), ngài hợp tác với Hòa thượng Giác Nhiên (tọa chủ tổ đình Thuyền tôn, đệ nhị Tăng Thống Giáo Hội PGVN Thống Nhất 1973-1979), mở trường An Nam Phật Học tại Trúc Lâm.  Ngài làm việc với hội trong tư thế là Tổng thư ký.

 

            Các bài giảng của ngài dạy tại trường Vạn Phước và chùa Từ Quang gồm :  Tam quy ngũ giới, Trạch pháp tu tâm, Thanh văn thừa, Bồ tát thừa, Pháp môn niệm Phật, … đều có đăng trong báo Viên Âm.


            Năm Ất Hợi (1935), ngài muốn cho quần chúng thấy sự hưng thịnh của Phật giáo tại miền Trung, nhất là tại tỉnh nhà và cố đô Huế, ngài đã đi đó đây để vận động giới Tăng sĩ bản tỉnh đem hết tâm lực ra để cúng dường ngày Đản sanh thật long trọng, thật vĩ đại.


 

            Ngày 10 tháng 05 năm 1935, trong lúc đại lễ Phật đản đang được cử hành rất trọng thể tại chùa Diệu Đế, thì ngài lại viên tịch ở Trúc Lâm.


 

            Tổ Giác Tiên không có mặt trong ngày đại lễ này.  Trước khi viên tịch, ngài bảo huynh đệ trong chúng mang bức tượng Di Đà phóng quang để trước mặt ngài.  Ngài ngồi ngay ngắn như nhập định, chấp tay và niệm: Nam Mô A Di Đà Phật.


             Lúc ấy, tổ Giác Tiên vào đứng bên cạnh và phú kệ như sau :

 

                        Tâm Địa (*) quai hàm pháp tánh viên,

                        Tây lai diệu chỉ hiểu Nam thiên,

                        Hoát nhiên trực triệt Tào Khê lộ,

                        Miễn tại linh bình ngũ thập niên.

Dịch :

                        Cõi tạm bao hàm pháp giới tánh,

                        Trời Nam sáng tỏ ý Tây truyền,

                        Bỗng nhiên thấu triệt Tào Khê lộ,

                        Khỏi mất công dài năm chục năm.

 

            (*) Tâm Địa là Pháp danh của ngài.  Giáo sư Nguyễn Lang dịch.

 

            Ngài bái nhận phú kệ xong, xin Tổ được lấy ảnh Di Đà đắp lên mặt và từ từ nhắm mắt thị tịch.

 

            Ngài xả thân tứ đại đúng vào lúc 08 giờ sáng, ngày mồng Tám tháng Tư năm Ất Hợi (tức ngày 20 tháng 05 năm 1935).  Hưởng dương trần thế 31 tuổi.

 

            Ngài là vị sư trẻ duy nhất được Giáo hội xây tháp phụng thờ và lo liệu mọi nghi lễ trong lúc nhục thân của ngài chưa nhập tháp.

 

            Giáo hội đã tặng câu đối :

 

 

            *.-  Khả hạnh giải, chánh đạo bất chung yên, nguyệt san đề xuất, Phật học liên trường hứa đa cô vũ, phong trào vô tận đăng quang tường phúc lãng,

 

            *.-  Y bi tại, Tây Thiên hồ kịch khứ, Di Lặc vị lai, Thích Ca dĩ viễn đương thủ lăng di mạt pháp, đề cao trọng hạ phú thùy kiên.

 

            Thầy Chánh Thống tặng hai câu :


            *.-  Đương thời lộc dạ, độc đắc giả danh, kỷ niên lai tuy chuyển pháp luân, chánh huy quần sanh đa ngưỡng mộ.


            *.-  Thử nhật tùng tâm, cang phùng khánh tiết, thiên tãi hạ trùng quang Phật nhựt, hồ nhi lạc quốc thốc tiên đăng.

 

            Câu đối Nôm của thầy Vân Đàm tặng như sau :

 

             *.-  Rừng mai đạp tuyết, cay đắng trải bao phen, cơ hóa độ còn nhiều hy vọng chứa chan, tằm kéo tơ lòng thêu sử Phật,


    *.-   Sàng Trúc trổ hoa, tỉnh mê trong nửa kiếp, tình tương tri quá nặng, sầu trường man mác, quyện rơi giọt lụy gọi hồn thiêng.

 

            Ngài ra đi giải thoát cho chính ngài, nhưng An Nam Phật Học hội mất đi một vị tăng trẻ tài cao, học chúng Trúc Lâm mất đi một hướng đạo sư tận tụy, đồng sự pháp lữ mất đi một bạn hiền vô giá.

 

            Hằng năm, cứ vào ngày tưởng niệm ngài, chư Tăng Ni và Giáo hội bản tỉnh đều vào Trúc Lâm thắp nén hương long và đảnh lễ trước long vị của ngài.  Di ảnh cũng như long vị được phụng thờ bên gian tả của hậu tổ.

 

            Sự ra đi sớm của ngài, theo Giáo sư Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận quyển ba, trang 102 có đoạn nói như sau :

 

            -. “… Có lẻ giảng sư Mật Khế đã phí sức nhiều quá trong những ngày vận động cho lễ Phật Đản, một cuộc biểu dương đầu tiên của lực lượng quần chúng Phật giáo trong phong trào phục hưng.  Như ta đã biết, đại lễ này có vua Bảo Đại tham dự, đã làm cho báo chí trong nước nói lên nhiều lần và câu hỏi về sự cần thiết hay không cần thiết của một sự phục hưng Phật giáo đã được đặt ra giữa dư luận quần chúng quảng đại.

 

            … Trước đó đã vận động vua Bảo Đại chấp nhận vị Hội Trưởng Danh Dự của hội.  Từ năm trước, tức năm 1934, vua Bảo Đại đã ban hành sắc tứ cho các chùa Tường Vân, Tây Thiên và Trúc Lâm.  Chùa Tường Vân nguyên trước đã được sắc tứ rồi, bây giờ lại được sắc tứ một lẫn nữa, chùa Tây Thiên bây giờ là :  “Tây Thiên Di Đà tự” và chùa Trúc Lâm : “Sắc Tứ Trúc Lâm Đại Thánh tự”,  


            Đại Thánh Trúc Lâm tức là vua Trần Nhân Tông ngày xưa vậy.


            Đến đây chúng ta hiểu thêm một phần nữa là :  Qua biển sắc mà nhà vua

 ban cho Trúc Lâm Đại Thánh tự bây giờ có một phần liên hệ với Trúc Lâm Đại Đầu Đà ở núi Yên Tử (Bắc Việt) vậy.

 

            Bên cạnh là Bảo Tháp của Ngài, được Giáo hội đứng ra xây cất.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Please press HOME to go back to the main web page

HOME




TỔ ĐÌNH TỪ ĐÀM HẢI NGOẠI
615 N. Gilbert Rd., Irving, Texas 75061-6240, Tel.: (972) 986-1019, Fax: (972) 790-5855  *USA*
Email: tudamhaingoai@yahoo.com  -  Website:  www.todinhtudamhaingoai.net